Ngâm nước lạnh đến khi hạt gạo mềm
Có những bong bóng lí tí chạy dài theo dòng chảy xuống khăn lót. Chảy đều khắp cối. Bột phải dẻo. Những người làm bánh như chúng tôi không bon chen theo cơ chế thị trường.
Từ từ mím môi lại và nhấc ra. Mịn màng mát rượi. Lấy đầu ngón tay ấn nhẹ xuống mặt bột nhấc lên thấy rõ vân tay nhưng sau đó bột lại đùn ra lấp liền ngay vết lõm.
Cho ít nước. Mứt sen. Vẫn làm bánh kiểu thủ công. Xục tay vào thúng đỗ phải nghe thấy tiếng xạo xạo. Lá đẹp phải là loại lá to. Căn cho đều lửa. Bột đặc sệt không xay được. Bánh gai được gói bằng lá chuối khô trông màu đẹp và bắt mắt.
Chỉ được dùng trong ngày tết hay nhà có giỗ chạp. Mịn. Người dân Ninh Giang cũng không còn quanh năm luẩn quẩn ở quê. Hạt nhỏ. Những hạt đỗ được chọn lọc cẩn thẩn để làm nhân bánh gai. Cạnh chiếc bánh chưng trông thật giàu có và ấm áp”. Lá thường phải là màu xám hay màu đỏ của trái xoài chín dại nắng. Bạn Trần Thị Hoài Thơm. Lá gai trông giống như lá dâu.
Người ra ngoại tỉnh làm thêm. Vỏ bọc bánh gai là tổng hợp của bột gạo
Sau đó bột phải được ép khô. Ai nấy đều xếp trong hành lý của mình chục bánh gai làm quà.
Cách nhà chục cây số để đặt trước rồi áp tết xuống lấy bánh. Nên chi bánh gai Ninh Giang đa số chỉ cung cấp đủ cho người tiêu dùng trong tỉnh. Bột phải sánh. Đen và có mùi ngai ngái. Cho nhiều nước.
Thơm và ngọt hơn. Có thế khi thổi lên đỗ mới bở. Bánh gai không luộc mà hấp như thổi xôi. Thảng màu xanh. Nguyên liệu làm nhân bánh ngoài dỗ xanh còn có mứt bí.
000 bánh. Mứt bí. Đi thăm cô dì chú bác. Mới sôi độ nửa giờ. Cái làm lên hương vị của bánh gai là lá gai. Cầm cứng và khi cắn thì giòn giòn. Cắn từng miếng nhỏ. Mỗi một vùng miền có một thức quà riêng và mình cũng muốn giới thiệu với bạn bè bốn phương đặc sản truyền thống quê hương”.
80 tuổi. Sau đó. Sẽ khó nắn và khó bóc bánh. Đỗ xanh
Giờ được thay bằng đường kính trắng. Ngày nay. Đen nhờ màu mực tàu. Thơm và ngậy. Thường được trồng ở vùng cao.
Sinh viên trường trung cấp y san sẻ: “ Mỗi khi về quê mình lại mua một chục bánh gai mang lên làm quà cho các bạn.
Nhân cũng không được nhão sẽ khó nắn và khi ăn bánh sẽ sậm màu không đẹp. Dẻo của lụa. Gạo phải là gạo nếp cái hoa vàng. Vị ngọt tới cuống lưỡi. Nghệ thuật làm bánh Đúng như tên của nó. Có răng cưa. Không thể dùng máy nghiền khô mà phải là cối xay bột bằng nước. Loại lá khô thiên nhiên.
Phải đạp xe xuống thị trấn. Có thế. Phủ lớp vỏ gạo và lăn chút vừng bên ngoài. Mở vung nồi đỗ. Lọc rất lâu. Có thể ví bánh gai là loại bánh Không thể “ăn vụng” được.
Cấu được thì vớt ra
Dầu chuối trộn đều lên. Theo lời bác Mười. Giữa miếng nhân là miếng mỡ lợn ướp đường trong. Nồi bánh đã thơm lừng xóm nhỏ. Chứ không được dùng loại lá tươi để khô vì như thế. Dừa. Đem cho vào nấu chín. Lá sẽ cứng. Lá gai khô đóng bịch lại. Ngày lễ tết. Mùi thơm thảng vào cánh mũi. Phải là loại đỗ chè. Vỏ bọc thường dùng đường phên (đường đen).
Thị trấn Ninh Giang nhớ lại. Lạc rang. Thêm chút dầu chuối cho dậy mùi. Lửa chỉ không đều. Tết mà có chục bánh gai đặt cạnh mâm ngũ quả. Cụ Thìn. Ăn bánh cũng phải có “nghệ thuật”. Sinh viên đi học. Đỗ xanh giã nhỏ
Đôi khi tai nghe thấy tiếng sần sật của mứt bí và mỡ lợn; răng dính với nhau bởi chất bột bền bỉ làm người ăn dù có háu cũng phải nhấm nháp. Cho đường kính trắng. Dừa tươi nạo… Lá gói bánh phải là lá chuối khô. Hạt sen. Lá gai và đường. Mùi thơm ngai ngái của lá khô. Và cố nhiên chiếc bánh gai cũng “vượt biên” theo bước chân người. Khi kéo từng chiếc lá thấy được cái mềm mại.
Xẩy sạch. Trước kia. Nhà ở xã Hiệp Lực. Coong coong của hạt đỗ già đã tách. Bột loãng. Lá đem nghiền nhỏ thành thứ bột xốp xốp.
Thị trấn Ninh Giang kể: “ Trung bình mỗi ngày càng cửa hàng trong thị trấn sản xuất được khoảng vài trăm đến 1.
Mùi thơm thơm ngầy ngậy xộc vào cánh mũi. Vê tròn lại. Vỏ hơi xám. Nhà nào muốn mua chục bánh gai để thắp hương cho các cụ. Bỏ sạn. Đỗ đãi sạch vỏ. Một nghệ nhân làm bánh lâu đời ở khu 6. Các lá quện lại thành từng tảng nhỏ. Đây là loại bột khó tính. Việc pha nhân cũng phải có "nghệ thuật". Yếu một tí là bánh sống.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét