Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Phụ nữ Việt đẹp hơn cùng đọc lại trong nón bài thơ.

Vật liệu làm nón không phức tạp

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón đốn nhờ vào đôi bàn tay khéo léo# của người thợ tạo nên

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Các cô gái Việt Nam trông nom chiếc nón như một vật trang sức, thỉnh thoảng là vật để bàn luận tâm tư tình cảm của riêng mình

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Ở nơi nào cũng vậy, muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp, dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (hiện tại người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao… chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Tre chọn ống dài vuốt nhọn, gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt, dùng làm vòng nón

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Lúc đầu khi chưa có công cụ để khâu thắt, nón được tết đan

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài, ngắn khác nhau

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Ngoài chức năng che nắng, che mưa, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và ăn nhập với giác quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị, kín đáo

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng, mềm mại và kín đáo của người nữ giới Việt Nam

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Con số 16 là kết quả của sự nghiên cứu, lựa chọn qua nhiều năm, cho đến nay đã trở nên một nguyên tắc không thay đổi

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Người ta đốt lưu huỳnh hơ cho lá trắng ra, song song tránh cho lá khỏi mốc

Phụ nữ Việt đẹp hơn trong nón bài thơ

Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, má lúm đồng tiền, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của cô gái chừng như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ… Người ta đội nón làm ruộng, đi chợ, chơi hội.

Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh nhăn nheo, được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. Nón có nhiều loại, nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh dẻ hơn… tuốt luốt đều để che đậy cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều.

Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. Nón Chuông (làng nón lừng danh Việt Nam ở làng Chuông, huyện Thanh Oai – Hà Nội) có 16 lớp vòng.

Lửa phải vừa độ, nếu nóng quá thì bị giòn, vàng cháy, nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu, sau lại nhăn như cũ. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim, tức thị vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên).

Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên địa cầu này. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín, khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt, hay những hình ảnh bụi tre, đồng lúa, những câu thơ trữ tình, phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.

Sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, nón cũng có nhiều biến đổi về mẫu mã và chất liệu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét