Vật liệu làm nón không phức tạp
Các cô gái Việt Nam trông nom chiếc nón như một vật trang sức, thỉnh thoảng là vật để bàn luận tâm tư tình cảm của riêng mình
Ở nơi nào cũng vậy, muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp, dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (hiện tại người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành
Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao… chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam
Tre chọn ống dài vuốt nhọn, gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt, dùng làm vòng nón
Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài, ngắn khác nhau
Ngoài chức năng che nắng, che mưa, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và ăn nhập với giác quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị, kín đáo
Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng, mềm mại và kín đáo của người nữ giới Việt Nam
Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo
Người ta đốt lưu huỳnh hơ cho lá trắng ra, song song tránh cho lá khỏi mốc
Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh nhăn nheo, được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. Nón có nhiều loại, nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh dẻ hơn… tuốt luốt đều để che đậy cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều.
Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. Nón Chuông (làng nón lừng danh Việt Nam ở làng Chuông, huyện Thanh Oai – Hà Nội) có 16 lớp vòng.
Lửa phải vừa độ, nếu nóng quá thì bị giòn, vàng cháy, nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu, sau lại nhăn như cũ. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim, tức thị vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên).
Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên địa cầu này. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín, khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt, hay những hình ảnh bụi tre, đồng lúa, những câu thơ trữ tình, phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.
Sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, nón cũng có nhiều biến đổi về mẫu mã và chất liệu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét