Nếu nhà đầu tư tốt, họ sẽ thực hiện đầy đủ các bổn phận với Nhà nước, với người cần lao
Sau khi quyết định tòa án có hiệu lực, cơ quan thi hành án sẽ bán đấu giá tài sản của các DN bỏ trốn này. PV: Được biết ông cũng tìm hiểu nhiều về môi trường đầu tư ở Đức và có nhiều mối quan hệ với các DN Đức, vậy cách nước Đức phòng tránh việc DN FDI bỏ trốn như thế nào, thưa ông? TS Phạm Hùng Tiến: Ở Đức cơ quan thụ lý đăng kí kinh doanh sẽ soát một dự án đầu tư trên 3 bình diện.
Bên cạnh đó nhiều nhà đầu tư đã xác định vấn đề đạo đức kinh dinh không rõ ràng, nhiều DN FDI chỉ kinh doanh trong thời gian ân hạn thuế tối đa 275 ngày, họ làm ăn chụp giật, đến thời kì phải nộp thuế là họ biến mất. Thứ ba là giao thông với các công ty mẹ có công ty con hoạt động ở Việt Nam. Sau khi thẩm định 3 đối tượng trên chúng ta mới cấp giấy phép đầu tư.
Tuy nhiên, các trường hợp khác chưa có chỉ dẫn xử lý. Thứ hai soát rõ về người điều hành dự án đó, tức thị các nhà đầu tư nước ngoài.
Nhiều dự án đã có diễn tả dùng những bộ chứng từ xuất du nhập để vay tại ngân hàng thương nghiệp của chúng ta rồi ôm tiền về nước và chúng ta không thể tìm được tăm hơi nhà đầu tư. Một là bản kế hoạch kinh dinh phải có viễn ảnh trong 3 năm tới.
Ngược lại, nhà đầu tư “xấu” sẽ bỏ trốn khỏi Việt Nam. Xin cảm ơn ông! LƯƠNG THU MAI (thực hành). TS Phạm Hùng Tiến. Kinh nghiệm của nước ngoài cho thấy cách tốt nhất là trước nhất phải rà soát năng lực của nhà đầu tư dự án kinh doanh, tức tính khả thi của dự án và dự án phải bảo đảm được tình hình kinh dinh tốt trong 3 năm đầu tiên.
Giả tỉ họ có hội sở tại khu công nghiệp, ban quản lý cần quan hoài đến họ nhiều hơn nữa. Nếu để DN bán hết máy móc, nợ lương người lao động rồi cơ quan quản lý mới ra tay giải quyết là có lỗi.
Đó là cách tuyển lựa tốt nhất. Nhìn chung họ nhấn mạnh tính khả thi của dự án đầu tư. PV: Theo vắng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến nay đã có hơn 500 DN FDI bỏ trốn khỏi Việt Nam. Duyệt y các hình thức thẩm tra này, cơ quan quản lý sẽ nắm bắt được tình hình thực tiễn của DN để có giải pháp xử lý.
Việc này cũng rất cần có sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước ở địa phương cũng như Trung ương. PV: Hướng xử lý với hơn 500 DN FDI này như thế nào, thưa ông? TS Phạm Hùng Tiến: đầu tiên chúng ta phải tìm hiểu duyên do tại sao họ bỏ trốn hay tạm ngừng kinh doanh.
Theo ông nguyên do nào khiến có tình trạng các DN bỏ trốn? TS Phạm Hùng Tiến: nguyên do sâu sa khiến DN bỏ trốn xuất hành từ năng lực tài chủ yếu kém. Trong trường hợp xác định họ bỏ trốn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Văn bản số 7566/BKHDT-PC chỉ dẫn việc thu hồi giấy chứng thực đầu tư các trường hợp vắng chủ đối với dự án chưa triển khai thực hành hoặc dự án vắng chủ đã có các phán quyết của tòa án.
Thứ hai họ sẽ kết hợp với phòng thương nghiệp và công nghiệp địa phương của nước đi đầu tư. Thứ ba công ty đi đầu tư sẽ phải ít tình hình tài chính của công ty mẹ trong 3 năm gần nhất.
Ngoài ra, trong quá trình triển khai dự án, cơ quan quản lý nên thẳng băng soát, giám sát dưới nhiều hình thức như vấn đề vệ sinh môi trường, an toàn lao động, thực hành bổn phận với Nhà nước Việt Nam. Họ gặp khó khăn trong quá trình vận hành dự án, làm nhằm nhè lỗ nên phải dừng dự án. PV: Vậy công tác quản lý thời gian tới nên được tiến hành như thế nào để không tái diễn tình trạng này? TS Phạm Hùng Tiến: Phải có giải pháp tổng thể, bắt đầu từ giám định hồ sơ.
Bên cạnh đó, ngay tuổi đầu họ vận hành dự án, chúng ta nên tạo cho họ nhiều thời cơ để kết liên với kinh tế của địa phương, doanh nghiệp địa phương và các nhà cung cấp dịch vụ để giúp họ tháo gỡ khó khăn, nếu có.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét