Theo đó, tuốt luốt các khoản thu đã được quy định trên, khi nảy phải được giao hội vào NSNN
Tài liệu tham khảo: 1. Muốn đáp ứng được đề nghị này, trên hai mảng hoạt động thu, chi của NSNN cần phải quy định rõ như sau: Những khoản thu NSNN là những khoản thu mà NSNN hưởng 100% và đã được Kho bạc quốc gia kiểm soát và ghi thu. Quỹ Đầu tư phát triển địa phương được thành lập theo Nghị định 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2007 với quy mô vốn điều lệ tối thiểu 100 tỷ đồng, ngay từ ngày thành lập [Điều 30, khoản 2].
Một đôi tỉ dụ tiêu biểu để minh họa cho hiện tượng này, như sau: Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 82/QĐ-TTg ngày 26/6/2002 có quy định “… Vốn điều lệ của Quỹ do NSNN cấp là 200 tỷ đồng. Những khoản chi của NSNN cũng cần phải được hạch toán tách bạch giữa chi đáp ứng nhu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước với chi để cấp mới hoặc bổ sung vốn điều lệ cho các quỹ ngoài ngân sách.
Muốn vậy, chúng ta phải đổi mới phương thức lập dự toán NSNN theo hướng phối hợp giữa lập ngân sách truyền thống với lập ngân sách theo chương trình và lập ngân sách trung hạn. Ảnh minh họa. Như vậy, cụm từ “các khoản thu để lại đơn vị sử dung quản lý qua ngân sách nhà nước” mà chúng ta đang dùng giờ cần được huỷ bỏ.
Thứ hai, trong hoạt động của bất kỳ một ngành, một lĩnh vực, thậm chí đến từng đơn vị, đều phải dựa trên 3 đầu vào căn bản: nhân công, vật lực, tài lực (cách gọi tắt của nguồn lực tài chính). Số lượng quỹ tài chính quốc gia ngoài ngân sách xuất hiện ở mỗi ngành giữa các thời kì khác nhau có sự khác nhau là do những đổi thay về nhiệm vụ mà mỗi ngành phải đảm đương đồng hành cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế.
Ở địa phương, bên cạnh ngân sách địa phương cũng tồn tại các quỹ tài chính ngoài ngân sách do địa phương quản lý. Nhất định phải kiêng kị các giải pháp để san lấp đến mức tối đa các lỗ hổng đó. Đơn cử một đôi quỹ để thấy được sự bất nhất giữa “đầu vào” và “đầu ra” trong quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách ở nước ta và “lỗ hổng” pháp lý xuất hiện ở các văn bản dưới luật điều chỉnh vào hoạt động này.
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 82/QĐ-TTg ngày 26/6/2002. Bộ Tài chính, Tài liệu họp Ban soạn thảo dự ản Luật NSNN(sửa đổi) tháng 6/2012; 2. Đây cũng được coi là một trong những cứ để cơ quan quyền lực nhà nước mỗi cấp có ngân sách coi xét về các đề xuất xin cấp vốn của các cơ quan, tổ chức cho nhiệm vụ quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách ở những năm tiếp theo.
#, Hoàn tất mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn trách nhiệm đối với cả nước”.
Giải pháp hoàn thiện hố xí pháp lý Trong khuôn khổ bài viết không thể đưa ra được các giải pháp mang tính toàn diện về hố xí pháp lý đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Kể từ đó, Hiến pháp đã mở đường cho việc cải hoán hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vào lĩnh vực quản lý NSNN trong chiến lược canh tân nền hành chính quốc gia từ năm 2001 đến nay.
Trong thưa quyết toán NSNN hàng năm mà Quốc hội luận bàn và chuẩn y chi phản chiếu số tiền đã chi cho các quỹ tài chính quốc gia ngoài ngân sách.
Tóm lại, điểm qua thực trạng về các văn bản quy phạm luật pháp từ cao xuống thấp có can dự đến điều chỉnh các quỹ tài chính ngoài ngân sách ta đều thấy xuất hiện các “lỗ hổng” pháp lý ở các chừng độ khác nhau.
Hầu như ngành nào của nền kinh tế quốc dân cũng thấy xuất hiện một hoặc một số quỹ tài chính quốc gia ngoài ngân sách. Để tăng thêm giá trị pháp lý về thẩm quyền và nghĩa vụ của Hội đồng dân chúng trong quản lý tài chính công ở địa phương, Hiến pháp nên bổ sung mức “các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách” vào Điều 120 hiện hành.
Do đó, không thể lấy các đề nghị của bộ phận để điều chỉnh hoạt động của tổng thể. Phạm vi đậy của các quỹ tài chính ngoài ngân sách quá rộng. Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010. Hiện tượng đó đã được người dân phản chiếu, Quốc hội cảm nhận được và có yêu cầu Chính phủ giải trình, nhưng vẫn chưa đủ sức nặng để điều chỉnh đối với hoạt động của các quỹ tài chính quốc gia ngoài ngân sách này.
Tuy nhiên gắn với khuôn khổ đã giới hạn và gắn với thực trạng đã được phân tích trên đây, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp đấu hoàn thiện nhà xí pháp lý cho quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách, bao gồm: Một là, khẳng định và làm rõ thẩm quyền của cơ quan quyền lực quốc gia các cấp trong quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách.
Song, đây cũng chính là yếu tố làm suy giảm khả năng thẩm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hoạt động của các quỹ tài chính ngoài ngân sách; bởi rất dễ xảy ra xung đột giữa các văn bản dưới luật cùng điều chỉnh vào một hoạt động.
Cụ thể: Tại khoản 4, Điều 84 của Hiến pháp nên sửa theo hướng quy định quyền của Quốc hội trong việc: "… quyết định dự toán NSNN và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán chi ngân sách trung ương và giám định, ưng chuẩn kết quả chi ngân sách trung ương cho các quỹ tài chính ngoài ngân sách trung ương cùng kỳ". Nguồn: internet Thực trạng hiên pháp lý Điểm chung nhất về cầu tiêu pháp lý đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách là hầu hết các quỹ này không được hình thành trên cơ sở của các văn bản luật pháp có cấp độ pháp lý cao như luật hoặc pháp lệnh.
Thay vào đó, chúng ta phải phát hiện, chỉ rõ các nguyên cớ đã gây ra các yếu kém trong quản lý tài chính quỹ tài chính ngoài ngân sách thời gian qua để tìm ra các biện pháp ăn nhập nhằm hạn chế đến mức tối đa khả năng nảy sinh những yếu kém đó. Cụ thể: Luật NSNN hiện hành quy định: “Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của quốc gia; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản trợ giúp; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật”.
Thay vào đó, các văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động của các quỹ này hoặc là được hình thành bởi các nghị định của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ, mà trước đó có thể có hoặc không có những luật chuyên ngành làm nền tảng.
Thí dụ: Trước tháng 6 năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đốn phải thực hành các nhiệm vụ quản lý quốc gia về trồng trọt và chăn nuôi; nhưng kể từ sau ngày 04/6/2010, Bộ này còn phải phụ trách thêm nhiệm vụ “…là cơ quan trực Chương trình…”, ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/ 6/ 2010 về “duyệt y Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tuổi 2010 – 2020”.
Quy định này đã trùm lên một số khoản thu mà ngay sau đó Chính phủ lại cho phép một số đơn vị có nảy các khoản thu được giữ lại để sử dụng, như: lệ phí, phí thu từ các đơn vị hành chính, sự nghiệp; các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của quốc gia có được từ đầu tư vốn của các tập đoàn, các tổng công ty quốc gia… Sự không rõ ràng về phạm vi đã tạo ra “lỗ hổng” pháp lý trong quản lý điều hành NSNN.
Thực tế quản lý các quỹ tài chính quốc gia ngoài ngân sách ở nước ta bây chừ, các văn bản dưới luật này lại thường có hiệu lực cao; bởi nó nhanh chóng được thay đổi và thích ứng với cảnh ngộ.
Tuy thế, chấm dứt năm tài chính Quỹ đầu tư phát triển địa phương chỉ phải lập ít tài chính và “mỏng tài chính của Quỹ đầu tư phát triển địa phương phải được một tổ chức kiểm toán độc lập kiểm toán”, không thấy bổn phận giải trình trước Hội đồng nhân dân tỉnh về kết quả đã dùng tiền của ngân sách cấp này.
Sau mỗi năm hoạt động, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam chỉ gửi đến Bộ Tài chính báo cáo quyết toán được gửi chậm nhất vào ngày 30/3 của năm sau để Bộ Tài chính coi xét, giám định và thông qua.
Hai là, cần sửa đổi, bổ sung lại Luật NSNN hiện hành theo hướng phân biệt rõ khuôn khổ của NSNN và của các quỹ tài chính ngoài ngân sách quốc gia. Thường nhật, khi nền kinh tế quốc dân càng phát triển, thì nhiệm vụ quản lý quốc gia về kinh tế của mỗi ngành gia tăng. NSNN cấp đủ vốn điều lệ cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam trong kì hạn 2 năm, kể từ ngày có quyết định thành lập.
Về Luật Ngân sách quốc gia Trong phạm vi của tài chính công, nếu xét theo mục đích và cơ chế quản lý thì bao gồm: Quỹ NSNN và các quỹ ngoài NSNN.
Ưng chuẩn đó, từng đại biểu của cơ quan quyền lực quốc gia các cấp phải có bổn phận toàn diện hơn trước các đề nghị quản lý tài chính công ở cấp mình; cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước mỗi cấp cũng thấy rõ trách nhiệm của mình hơn trong việc cung cấp các thông tin không chỉ đối với quản lý ngân sách nhà nước, mà còn cả các thông tin về quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách.
Nhờ đó, dòng tiền của NSNN chi cho các quỹ tài chính ngoài ngân sách có các thông tin về cả “đầu vào” và “đầu ra”. Thông qua đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có thể chắt lọc và loại bỏ sự trùng lặp của ăn tiêu công cho cùng một công việc mà nhà nước phải thực hành; song song buộc ràng được trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc sử dụng các khoản tiền tài tài chính công.
Hiện tượng trên cũng không có gì là khó hiểu, bởi hai lý do căn bản sau: Thứ nhất, do khuôn khổ phủ của các quỹ tài chính ngoài ngân sách quá rộng. Cuối mỗi năm, các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách có nghĩa vụ lập ít quyết toán kèm theo giải trình kết quả của việc dùng tiền ngân sách đã chi cho cơ quan, tổ chức mình.
Như vậy, tài chính chỉ là 1 trong 3 nguồn lực đầu vào để tổ chức hoạt động của các chủ thể. Tuy nhiên, trong một số Điều, Khoản cụ thể cũng đã diễn đạt những quy định không rõ ràng về khuôn khổ. Các văn bản dưới luật tập kết các văn bản được bộc lộ theo các hình thức: Nghị định, quyết định, thông tư, thông tư liên tịch… cho sự ra đời hay chỉ dẫn quản lý một quỹ tài chính nhất quyết được gọi chung là các văn bản dưới luật điều chỉnh vào hoạt động này.
Do đó, trong các quy định của Luật NSNN hiện hành không thấy xuất hiện các thuật ngữ về quỹ tài chính ngoài ngân sách là đúng. Khi đó Điều 120 đã được bổ sung sẽ là: Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng dân chúng ra nghị quyết về các biện pháp đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách và các quỹ tài chính ngoài ngân sách địa phương; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của quần chúng, hoàn tất mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước.
Với ý thức đó, xin đề cập đến “lỗ hổng pháp lý” trong quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách ở nước ta thời gian qua đã miêu tả, bao gồm: Về Hiến pháp Để chuẩn bị cho sự thay thế Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) năm 1996 bằng Luật NSNN 2002, Quốc hội đã sửa đổi khoản 4 Điều 84 của Hiến pháp từ: “Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ nhà nước; quyết định dự toán NSNN và phân bổ NSNN, ưng chuẩn quyết toán NSNN; quy định, sửa đổi hoặc huỷ bỏ các thứ thuế;” [Hiến pháp 1992], thành “Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ nhà nước; quyết định dự toán NSNN và phân bổ ngân sách trung ương, thông qua quyết toán NSNN; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;" [Hiến pháp sửa đổi 2001].
Trong đó lập ngân sách theo chương trình kết hợp với ngân sách trung hạn được áp dụng cho dự toán chi NSNN cho các quỹ tài chính ngoài ngân sách; còn lập ngân sách truyền thống với ngân sách trung hạn được dùng cho lập dự toán chi NSNN đáp ứng cho các nhu cầu thực hành chức năng, nhiệm vụ của nhà nước thường niên.
” Mặc dù vậy, Quyết định trên cũng không đưa ra sự buộc ràng về nghĩa vụ đáng kể đối với bộ máy quản lý điều hành quỹ (trừ quy định về bảo toàn quỹ).
Hầu như ngành nào của nền kinh tế quốc dân cũng thấy xuất hiện một hoặc một số quỹ tài chính quốc gia ngoài ngân sách. Chính nên chi, Luật NSNN hiện hành (Luật số 01/2002/QH11) chỉ điều chỉnh đối với các quan hệ nảy trong quản lý NSNN.
Mặc dù, cách duyệt và ưng ý cấp vẫn còn nhiều vấn đề phải nối phải hoàn thiện, nhưng ít ra hàng năm, Quốc hội vẫn có được các thông báo về số tiền cần chi từ NSNN cho các quỹ này.
Kết hợp cả 3 giải pháp trên, trên bàn của các đại biểu cơ quan quyền lực quốc gia các cấp sẽ có được đầy đủ các thông báo về thu, chi tài chính công (bao gồm cả ngân sách và các quỹ tài chính ngoài ngân sách) của cấp mình hàng năm.
Bên cạnh đó, các văn bản dưới luật thường để một “khoảng hở” rộng về bổn phận của các đơn vị trong quản lý tài chính đối với các quỹ ngoài ngân sách. Chính thành thử, những năm qua dòng tiền vẫn cứ được “rót” từ NSNN“chảy” vào các quỹ tài chính ngoài ngân sách do nhiều cơ quan khác nhau quản lý và số tiền đó đã được sử dụng, nhưng những lợi ích kinh tế - tầng lớp mà chúng mang lại chưa cao.
Nhưng sau khi chấm dứt mỗi năm ngân sách, các khoản tiền đã cấp cho các quỹ tài chính ngoài ngân sách đã được sử dụng như thế nào? Mang lại những kết quả gì so với đích kỳ vọng mà do chính các cơ quan có bổn phận quản lý mỗi quỹ đã đề xuất và Quốc hội đã chấp nhận – “đầu ra”, thì không được cung cấp đầy đủ tới Quốc hội.
Mặc dù vậy, trong Hiến pháp (Hiến pháp 1992, và Hiến pháp sửa đổi 2001), cũng chỉ xác lập thẩm quyền của Hội đồng quần chúng là: “Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng dân chúng ra quyết nghị về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm túc Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của quần chúng.
Ngược lại, sự vận động của bộ phận đó phải đi theo và bảo đảm sự đồng hành với sự vận động của tổng thể. Chính nên, chúng ta không nên bào chữa rằng: quản lý tài chính đối với các quỹ ngoài ngân sách thời kì qua chưa tốt là do không có một văn bản pháp luật có tính pháp lý cao điều chỉnh hoạt động này.
Vì: Trong dự toán chi NSNN mà Quốc hội trao đổi và quyết định hàng năm bao gồm các khoản vốn, kinh phí cấp mới hoặc bổ sung cho các quỹ tài chính ngoài ngân sách kỳ kế hoạch – “đầu vào”. Quốc hội cần cân nhắc và bổ sung vào Hiến pháp hiện hành các từ ngữ khẳng định thẩm quyền của cơ quan quyền lực quốc gia các cấp trong quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách.
Trong cơ cấu vốn điều lệ có vốn “…được bố trí trong dự toán chi ngân sách hoặc nguồn tăng thu ngân sách địa phương hàng năm…” [Điều 26, khoản 1, điểm a].
Điều này rất cấp thiết vì: (i) đảm bảo sự nhất quán về phạm vi tài chính công của nước ta với thông lệ chung mà quốc tế đang áp dụng bao gồm quỹ NSNN và các quỹ ngoài ngân sách nhà nước; (ii) Quy định rõ bổn phận của các cơ quan công quyền – đặc biệt là cơ quan quyền lực quốc gia, trong quản lý tài chính công.
Tỉ dụ: giữa quy định của cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập với các quy định chung; giữa các quy định của Trung ương với các quy định của địa phương; giữa các quy định của chính sách với tình cảnh kinh tế - xã hội thực tại.
Hiến pháp 1992 và Hiến pháp sửa đổi 2001; 3. Bên cạnh đó, xét trên góc độ quản lý dòng tiền của tài chính công, thì quy định trên về quyền của Quốc hội đối với các quỹ tài chính ngoài ngân sách lại chỉ có ở “đầu vào” mà không có ở “đầu ra". Làm thế nào để thực hiện được giải pháp này? Chúng tôi cho rằng, đây là thời cơ tốt để triển khai thực hành đề xuất của giải pháp trên; Chúng ta đang trưng cầu ý kiến cho việc hoàn thiện, bổ sung và sửa đổi Hiến pháp.
Theo thống kê của Bộ Tài chính, đến tháng 6/2012, ở nước ta hiện có 08 quỹ tài chính ngoài ngân sách ở cấp địa phương. Từ các phân tách trên cho thấy khả năng xây dựng một luật chung cho các quỹ tài chính quốc gia ngoài ngân sách không có tính khả thi và càng không thể xây dựng luật riêng cho từng loại quỹ này. Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 8 - 2013.
Hay Bộ Y tế cũng phải đóng vai trò là cơ quan thường trực trong tổ chức quản lý nhiều quỹ tài chính dành cho các chương trình mục tiêu nhà nước về y tế khác nhau ở các thời kì khác nhau. Những khoản thu nảy ở các đơn vị có quan hệ với ngân sách quốc gia, nhưng cơ chế tài chính hiện hành đang cho phép các đơn vị đó giữ lại để sử dụng, thì đưa vào nguồn thu của các đơn vị đó.
Ba là, đối với các văn bản dưới luật có liên tưởng đến quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách, cần phải bổ sung, hoàn thiện theo hướng: quy định rõ bổn phận của các cơ quan, tổ chức được giao quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách cuối năm tài chính phải lập ít quyết toán kèm theo bản giải trình kết quả hoạt động của đơn vị được đảm bảo từ các khoản chi của NSNNtrong năm.
Luật NSNN số 01/2002/QH11; 4. Sau mỗi năm hoạt động, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam chỉ gửi đến Bộ Tài chính “vắng quyết toán được gửi chậm nhất vào ngày 30/3 của năm sau để Bộ Tài chính xem xét, thẩm định và ưng chuẩn”. Các thưa này phải được gửi tới cơ quan công quyền trực tiếp quản lý chi ngân sách cho sự hình thành nguồn tài chính của quỹ ngoài ngân sách đó.
Chính quy định này của Hiến pháp cũng làm cho hoạt động quản lý tài chính công ở cấp chính quyền địa phương rơi vào tình trạng na ná như ở cấp Trung ương: có “đầu vào” mà không có “đầu ra” từ kết quả dùng tiền của các quỹ tài chính ngoài ngân sách.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét