Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Bộ trưởng Giàng Seo Phử trả lời thắc mắc của dân

Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, chương trình nhằm phát triển kinh tế, xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng thực tế vùng dân tộc thiểu số vẫn là vùng chậm phát triển, tỷ lệ đói nghèo còn cao so với bình quân chung của cả nước.

Dù lượng thơ ấu gửi về Chương trình Dân hỏi Bộ trưởng giải đáp không nhiều so với các lĩnh vực khác, nhưng những thông tin hệ trọng đến cơ chế, chính sách dành cho đồng bào dân tộc vẫn được gửi về với những trường hợp rất cụ thể của từ người dân ở một vùng cao, vùng xa nào đó, với những trăn trở đầy ý thức nghĩa vụ của những cán bộ cấp cơ sở…

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử giải đáp những băn khoăn, trăn trở này.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử (Ảnh: VTV)

PV: Thưa Bộ trưởng, xin được bắt đầu với câu hỏi của một người dân như sau: bây chừ, một số dự án tương trợ định canh, định cư ở địa phương đang thực hiện nhưng lại bị bỏ dở dang và không biết đến bao giờ mới hoàn thành. Tại sao lại có tình trạng này? Và bao giờ những dự án này sẽ được nối lại để hoàn thành và thực thụ phát huy tác dụng đối với cuộc sống của người dân ở địa phương?

Bộ trưởng Giàng Seo Phử:trước nhất phải nói một điều rằng, trong điều kiện sơn hà của chúng ta đang phát triển, nên vấn đề thành phố hóa vùng nông thôn đang trở thành vấn đề trọng điểm của tuốt các địa phương, phù hợp với chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên, vùng đồng bào dân tộc, nhu cầu về đô thị hóa cũng như phát triển rất quan trọng.

Vừa qua, Đảng và Nhà nước đã xác định một loạt chính sách, những chính sách đó đang được thực thi, nhiều địa phương đã làm rất hiệu quả những chương trình như 135, trọng tâm cụm xã, trong đó có cả khu thương nghiệp, bệnh viện…

Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương như đã phản chiếu về việc khai triển này. Đó là phong tục tập quán của các vùng. Chúng tôi đã kiểm tra có những hiện tượng như vậy. Có những dự án về xây dựng trung tâm cụm xã đã được giải ngân đến 50%, nhưng lại bỏ dở, hoặc xây xong lại hoạt động không hiệu quả.

Cách khắc phục vấn đề này như thế nào? Trước hết phải xuất phát từ nhu cầu chung của cộng đồng, của người dân. Nhưng vấn đề này chẳng thể thống kê được như phía Bắc là có nhu cầu về lĩnh vực gì, Tây Nguyên có nhu cầu gì, vùng ĐBSCL thì cần cái gì?

Tôi cho rằng, cái này cần sự vào cuộc của tuốt tuột các Bộ, ngành quản lý các chương trình, làm rõ các mục tiêu như y tế thì ai làm, chợ thì ai làm, dài ai làm… phải có luận bàn cụ thể. Để tránh hoang phí, tôi cho rằng cần làm hai việc: thứ nhất, chúng tôi đang tiếp bẩm với Chính phủ nối hoàn thiện việc đó và khẳng định lại hoàn thiện công trình đó để đưa vào sử dụng. Thứ hai, phải tìm hiểu và xác định lại nhu cầu, nếu không có nhu cầu chúng ta phải cắt để chuyển sang lĩnh vực khác, nội dung khác, hạng mục công trình khác để đầu tư có hiệu quả.

Nếu không chấm dứt tình trạng này thì trong thực tại vừa qua, trong khoảng 10 năm trở lại đây thì có tình trạng gây hoang phí và người dân đã đề đạt đúng thực trạng. Tôi cho rằng, vai trò lớn của các cấp ủy và chính quyền phải làm việc sát người dân hơn, và khi các địa phương duyệt dự án cần phải tính hạnh đến nhu cầu thực tế của từng địa phương, phải phù hợp với phong tục tập quán của vùng miền đó, của các đồng bào dân tộc ở đấy thì mới hiệu quả được.

PV: Thưa Bộ trưởng, về vấn đề định canh định cư, Đảng và quốc gia rất chủ tâm để chỉ đạo vấn đề này. Tuy nhiên, đến nay tình trạng thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt vẫn đang là tình trạng khá phổ biến ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở những vùng tái định cư khiến cho người dân không yên tâm sản xuất. Bộ trưởng có thể nói gì về vấn đề này?

Bộ trưởng Giàng Seo Phử:Nước ta do có đặc thù mỗi vùng miền có một ưu thế riêng, nhưng cũng có hạn chế, tạo cho chúng ta sự chênh lệch. Có những vùng có quỹ đất tốt, giữa đất nông nghiệp dùng được vào sản xuất, nhưng cũng có vùng chỉ có núi đá, đất sản xuất được rất thấp. Tỉ dụ như những vùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu… dù rất là rộng nhưng toàn núi đứng, không có mặt bằng nào để mà thiết lập một bản làng hay một cái sân, đây là khó khăn.

Theo ý kiến của tôi, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, ở khu vực phía Bắc có sự chia cắt lớn, độ dốc lớn ở vùng núi đá thì không bao giờ khắc phục được, vì chẳng thể biến đá thành đất được. Chúng ta chỉ còn cách tận dụng như thế nào. Vấn đề thiếu đất đối với vùng đồng bào dân tộc, thiếu đất sinh sản, thiếu đất ở bây giờ đang trở thành vấn đề phổ thông, nhất là những vùng khó khăn, núi cao, vực sâu, sạt lở nhiều và tác động của môi trường rất nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, đầu nguồn các sông và các thủy điện của núi đá hội tụ ở vùng này cũng là giúp cho sơn hà, bởi nguồn điện từ đây. Nhưng đây cũng chính là khó khăn, khi tình trạng ngập lụt lại đẩy người dân vào tình trạng khó khăn, càng lên núi cao lại càng khó khăn bởi thế nhiều vùng không có đất sản xuất. Tái định cư trở nên vấn đề bức xúc cho người dân, bởi thế hiện thời chúng ta phải xem.

Có nhiều phương án, nhưng các địa phương phải chủ động trình Thủ tướng các dự án, giải pháp để tháo gỡ. Đối với các Bộ, ngành thì cần phải xác định cho được quỹ đất tương ứng với số dân, bảo đảm định mức tối thiểu đất sản xuất cho người dân. Vượt quá việc đó thì quốc gia phải cân đối đất và cân đối phải có đất sinh sản thì phải xếp đặt lại dân cư.

Một huyện chỉ bố trí được khoảng 5.000 người mà bố trí 10.000 người là đất bị thu hẹp và sẽ xảy ra di dân tự do. Việc này chính quyền phải làm chứ người dân không thể tự biết được và phải có cơ chế chính sách phù hợp. Hiện phải đánh giá, soát lại đối với các công trình thủy điện đã bố trí tái định cư rồi nhưng giờ quốc gia đang hỗ trợ về gạo, nhưng vấn đề khi ăn hết gạo lại không có đất sản xuất, không tạo ra nguồn lương thực mới.

Điểm thứ 2 rất quan yếu, đó là Nhà nước phải đầu tư nguồn lực để chuyển đổi ngành nghề cho người dân, đây là giải pháp tích cực nhất.

PV: Xin được dành một câu hỏi cuối cho một người dân ở tỉnh Trà Vinh nhưng lại là câu chuyện khá điển hình cho tiêu chí phân loại và cách xử sự với hộ nghèo, hộ thoát nghèo. Lá thư của một thính giả tên là Sơn Thị Mừng, là một hộ nghèo ở ấp Trì Phong, xã Hòa Lợi, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Gia đình chị Mừng cho biết đã 2 năm qua được xếp vào diện hộ nghèo, Nhà nước hỗ trợ 2 lần tiền dầu và tiền ăn Tết 100.000 đồng/người. Tuy nhiên, mới đây gia đình chị bất thần được “thoát nghèo”. Xin được trích nguyên văn thư của chị như thế này: “Gia đình tôi giờ còn gặp nhiều khó khăn, đất đai không có, nước sạch cũng không, điện thì câu từ hộ nghèo khác, chồng là quân nhân phục viên nghèo về đi làm mướn, hai đưa con còn nhỏ, hay đau ốm. Hộ của tôi như vậy cho thoát nghèo hay không?”. Xin Bộ trưởng cho biết ý kiến về trường hợp này.

Bộ trưởng Giàng Seo Phử:Đây là một trường hợp cụ thể, tôi cho rằng cũng không phổ thông lắm, nhưng với trường hợp như trên cần phải xem xét lại. Vì tiêu chí xét xác nhận hộ nghèo thì có tiêu chí của Chính phủ và điều kiện để thoát nghèo thì cũng có tiêu chí để đánh giá.

Quờ hai vấn đề này phải từ cộng đồng bình xét, tức là nơi ngụ phải công nhận, xác định hộ đấy là nghèo đúng với tiêu chí của Trung ương thì xác nhận đây là hộ nghèo. Khi nào thoát nghèo, thì phải đảm bảo chuẩn nghèo thì tôi cho rằng đây không phải là tiêu chí xác định thoát nghèo, đây chỉ là tiền Chính phủ cho ăn Tết thôi, nên cần phải xem lại trường hợp này.

Và gửi câu hỏi đến, tôi cũng xin đáp với hộ gia đình này vẫn chưa đủ điều kiện để thoát nghèo và vẫn là hộ nghèo, thành ra chính quyền địa phương cần phải coi xét lại. Tương tự ở các địa phương, chúng ta cũng cần phải soát lại và phải có công nhận cho khách quan, đúng với tiêu chí quy định của Trung ương.

PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc đã trả lời chuyên mục “Dân hỏi Bộ trưởng đáp”./.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét