Ngày 29/11/2012, chúng tôi chia tay Thầy ở Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ IV với lời hẹn sẽ đón Thầy ngày 19/12, để sau đó 1 ngày, thầy bắt đầu lên lớp môn học Lý thuyết nghiên cứu Khu vực cho lớp học viên khóa 8, một thời gian biểu “đều như vắt chanh” suốt 5 năm nay. Nhưng đến sáng 18/12, toàn bộ chúng tôi bàng hoàng, ngơ ngác khi nhận được tin dữ từ Tokyo: Thầy đột ngột ra đi ngày 17/12, khi chuẩn bị tới tham dự một buổi tọa đàm khoa học. Nhà khoa học đáng kính
Người mà chúng tôi đều gọi “Thầy” một cách trìu mến là Giáo sư Sakurai Yumio. Ông là nhà nghiên cứu hàng đầu về lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á, nhà Việt Nam học nổi tiếng ở Nhật Bản và trên thế giới. Ông bắt đầu bén duyên với nghiên cứu về Việt Nam từ năm 1965, nhưng đẵn chuẩn y các tài liệu bằng tiếng Anh, tiếng Pháp. Đến năm 1985, khi là Tùy viên văn hóa Đại sứ quán Nhật tại Hà Nội, ông mới có thời cơ tiếp xúc với người Việt và kể từ đó bắt đầu chuyên tâm nghiên cứu về Việt Nam. Năm 1987, ông nhận bằng Tiến sĩ Sử học tại Đại học Quốc gia Tokyo với đề tài Tìm hiểu sự thành lập làng xã Việt Nam. Sau 5 năm, năm 1992 ông tiếp bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Nông nghiệp với đề tài Lịch sử vỡ hoang thủy lợi trên đồng bằng sông Hồng. Kể từ đó Giáo sư Sakurai đã dành hồ hết thời gian, trí tuệ và tâm sức để xây dựng thành công các chương trình, dự án nghiên cứu về thủy lợi, nông nghiệp, hiệp tác xã điển hình ở châu thổ sông Hồng của Việt Nam theo hướng khu vực học. Ông đã có công rất lớn trong việc trợ giúp chính phủ Việt Nam phát triển đời sống kinh tế, giáo dục, liên lạc ở các vùng nông thôn, miền núi. Bằng những minh chứng khoa học và tình với Việt Nam, ông đã thuyết phục được chính phủ Nhật Bản và các tổ chức phi chính phủ tương trợ 100% kinh phí cho các dự án nghiên cứu của Việt Nam, cấp một số học bổng thường niên cho lưu học trò và nguồn vay vốn ODA cho Chính phủ Việt Nam sau này. Trong số các chương trình, dự án nghiên cứu mà giáo sư nhiệt huyết nhất phải kể đến chương trình nghiên cứu làng cổ Bách Cốc (Vụ Bản, Nam Định). Đây là công trình nghiên cứu của tập thể học giả Nhật Bản dưới sự chủ trì của GS. Sakurai được giới khoa học quốc tế và Việt Nam đánh giá là một trong những nghiên cứu điển hình về nghiên cứu khu vực theo định hướng liên ngành. Chương trình kéo dài liên tục trong thời gian 14 năm (từ năm 1994 đến 2008) với sự cộng tác của trọng tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa và tiếp theo là Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, với số lượng chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên Nhật Bản tham dự lên tới khoảng hơn 300 lượt người. Rất nhiều tài liệu, di vật của người Việt cổ như lăng mộ, văn bia, trống đồng, đồ đá, nhiều đặc trưng văn hóa về một làng Việt cổ tiêu biểu vùng đồng bằng sông Hồng đã được phát hiện qua chương trình nghiên cứu nức tiếng này. Cũng qua chương trình nghiên cứu Bách Cốc, Giáo sư đã đào tạo được nhiều đời nhà Việt Nam học người Nhật Bản, những người hiện đang giữ vai trò mấu chốt trong nghiên cứu Khu vực học và Việt Nam học tại nhiều trường đại học và trọng tâm nghiên cứu nức danh ở Nhật Bản.
Giáo sư Sakurai Yumio luôn kiêu hãnh nói rằng: Làng Bách Cốc đã trở nên “đứa con thứ hai” của mình. Chúng tôi cũng nhiều dịp được đi cùng Giáo sư xuống Bách Cốc và vô cùng sửng sốt khi từ người già đến trẻ nhỏ đều quen và khôn cùng thân thiết với Giáo sư như người trong nhà, một thái độ không dễ thấy đối với vùng nông thôn Bắc Bộ. Từ năm 2004, cùng các nhà nghiên cứu Nhật Bản, ông chủ trì dự án nghiên cứu lịch sử thị dân Hà Nội nhằm phân tách quá trình biến đổi cư dân qua các thời đoạn trong lịch sử của Hà Nội hiện đại và dự án nghiên cứu cần lao địa phương và chính sách khu công nghiệp mới của Việt Nam. Giáo sư Sakurai Yumio còn là một chuyên gia xây dựng các mối quan hệ hữu hảo gắn bó giữa hai chính phủ Nhật -Việt và giữa các trường đại học ở Việt Nam và Nhật Bản, trong đó đặc biệt phải kể đến là Đại học nhà nước Hà Nội với Đại học Quốc gia Tokyo, Đại học Kyoto, Viện nghiên cứu Đông Nam Á của Đại học Kyoto... Năm 1999, ông là người đầu tiên đứng ra vận động thành lập Văn phòng giao thông của Đại học nhà nước Tokyo tại Đại học nhà nước Hà Nội có kì hạn 10 năm. Văn phòng là sự kết nối giữa hai đại học và các cơ quan nghiên cứu nhằm trợ giúp các nhà khoa học, lưu học trò Nhật Bản muốn nghiên cứu về Việt Nam và sinh viên Việt Nam muốn nghiên cứu về Nhật Bản. Thành công của chương trình nghiên cứu tại Bách Cốc và một số chương trình khác chính là kết quả hoạt động của Văn phòng liên lạc này.
Người thầy thân thiết Năm 2004, Giáo sư Sakurai Yumio được tặng danh hiệu Giáo sư danh dự của Đại học nhà nước Hà Nội, một danh hiệu hết sức cao quý dành cho nhà khoa học quốc tế có những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học và đào tạo, đặc biệt cho Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội. Giáo sư khôn cùng tự hào vì danh hiệu này, cứ mỗi lần sang Việt Nam, chúng tôi lại nhìn thấy chiếc huy hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội được cài trên ngực áo vest của ông. Nhiều lứa học sinh của ông nhớ lại, vào buổi lên lớp đầu tiên cho học viên Việt Nam, câu trước tiên Giáo sư tự giới thiệu: "Tôi là Sakurai Yumio, giáo sư Đại học Tokyo và tấn sĩ danh dự Đại học nhà nước Hà Nội". Được nghe đi nghe lại câu tự giới thiệu này, cứ mỗi lần tôi lại ứa nước mắt và tự hỏi vì sao có những ý trung nhân Việt Nam đến thế! tình yêu của thầy luôn đầy ắp trong những giờ giảng hết sức sinh động về lý thuyết và phương pháp đương đại về Khu vực học, một môn học còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Tình ái của Thầy cũng đầy ắp khi chỉ dẫn sinh viên đi khảo sát hết địa phương này đến địa phương khác với nghĩa vụ và ngọn lửa mê say của một nhà khoa học thực thụ. Có nhẽ buổi trước nhất, ai cũng sửng sốt về khả năng tiếng Việt của Thầy. Thực tiễn Thầy nói tiếng Việt không dễ nghe, nhưng thầy biết rất nhiều từ, đặc biệt là những từ chuyên môn. Thầy kể rằng chưa một lần Thầy cầm sách học tiếng Việt nhưng với ái tình và niềm mê say nghiên cứu Việt Nam Thầy đã tự học bằng đọc sách. Dần dần tiếng Việt ngấm sâu vào người và trở thành tiếng nói giao dịch duy nhất của Thầy với người Việt. Chúng tôi "ca ngợi" nhau câu nói đùa của Thầy: Người Việt Nam có hai loại, người sáng ý và người không thông minh. Tiêu chí về "người sáng ý" là hiểu tiếng Việt của Sakurai. Còn không hiểu thì thuộc nhóm kia... Thế là sinh viên ai cũng "cố" làm vờ vĩnh "hiểu". Những chỉ tới buổi học thứ hai, hết thảy mọi người đều hiểu thật, hiểu nội dung bài giảng, hiểu phương pháp nghiên cứu, và cái hiểu rõ nhất là tấm lòng của một một vị giáo sư nặng tình với Việt Nam.
Chúng tôi không thể quên được "sự cố" năm 2009, khi Thầy đang trong thời gian dạy tại Viện thì thốt nhiên nghe báo Thầy bị gẫy chân do một chiếc xe máy đâm phải khi qua đường. Tới bệnh viện, trước khuân mặt hoảng hốt của chúng tôi, Thầy ra công yên ủi, cố làm chúng tôi an lòng, nhưng lại tỏ ra băn khoăn hết sức khi giờ dạy cho sinh viên bị ảnh hưởng so với kế hoạch. Thế rồi, mấy ngày sau, sinh viên được thông tin giờ học vẫn được đấu, nhưng địa điểm chuyển từ trường vào Bệnh viện Việt Pháp. Hóa ra quá cảm động trước đề nghị tha thiết của Thầy, Viện trưởng bệnh viện đã thu xếp một phòng học đặc biệt tại Viện cho "Bệnh nhân Sakurai" lên lớp dạy sinh viên. Từng sự việc, từng ngày, từng năm....Tình cảm của Giáo sư đối với chúng tôi cứ dày thêm, sâu thêm. Có những lúc chúng tôi "quên" mất thầy là giáo sư nổi tiếng nước ngoài, mà cứ nghĩ thầy là một người cha, người ông của chính mình.
Phương Thanh |
Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013
Rưng rưng đón Thầy về “quê hương thứ hai”
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét