Hải Lý
Nếu dự thảo được ban hành sớm và thực hiện nghiêm túc, môi trường kinh doanh tiền tệ hứa những đột phá về tính minh bạch, công khai. Dễ mà không... ”Ngon ăn” Một trong những quy định của dự thảo là tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Điều 8 dự thảo nêu rõ “từng tổ chức tín dụng phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và hợp nhất 9%”. Về mặt số học, 9% giữ nguyên như Thông tư 13. Tuy nhiên, theo phụ lục số 1 đi kèm, các khoản cấp tín dụng để góp vốn mua cổ phần tại tổ chức tín dụng khác, các khoản góp vốn mua cổ phần ở các tổ chức tín dụng khác, các khoản góp vốn mua cổ phần của công ty con, các khoản đầu tư góp vốn mua cổ phần nhằm nắm quyền kiểm soát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao tính sổ, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian tính sổ, thông tin tín dụng, đều phải trừ ra khỏi vốn cấp 1 khi tính vốn tự có. Với cách tính mới này, vốn tự có của không ít nhà băng sẽ tự động tụt xuống đáng kể. Để đối phó, sẽ chỉ còn hai cách: hoặc tăng vốn điều lệ, hoặc rút các khoản đầu tư, cấp tín dụng nói trên về. Nói cách khác “anh giàu có, thừa tiền, hệ số CAR “ngon” rồi, thì hãy nghĩ đến đầu tư chéo. Còn không, lo cho bản thân đi đã!”. Phụ lục số 2 có thêm một quy định khe khắt can dự đến CAR: các khoản phải đòi của công ty con, công ty liên kết; các khoản phải đòi đầu tư kinh dinh chứng khoán; các khoản phải đòi đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ; các khoản phải đòi kinh doanh bất động sản; các khoản cho vay đảm bảo bằng vàng đều phải áp hệ số rủi ro cao nhất 150%. Hệ số đang ứng dụng đối với cho vay chứng khoán, bất động sản giờ cũng là 150%. Như vậy dự thảo mới chẳng những không giảm bớt, mà còn áp thêm mức cao cho phần nợ phải đòi của công ty con, công ty liên kết và cho vay bằng vàng. Càng mới càng “xương” Trong chương 1 định nghĩa về người có liên quan của một tổ chức, cá nhân được mở rộng. Người có can hệ của một cá nhân chủ nghĩa bao gồm “tổ chức, cá nhân ủy quyền đại diện phần vốn góp cho cá nhân đó; cá nhân chủ nghĩa được cá nhân đó ủy quyền đại diện phần vốn góp”. Tỉ dụ ông A có 10-15 người ủy quyền phần góp vốn của họ vào một nhà băng cho ông, thì tất thảy những người đó đều là người có can dự. Trong một số vụ thâu tóm nhà băng những năm gần đây, hình thức này đã được tận dụng triệt để. Tuy nhiên khi ấy những người đứng tên giùm nắm giữ cổ phần, cổ phiếu (như anh lái xe, bà giúp việc, ông trợ lý, cô thư ký...) Và sau đó ủy quyền cho những ông chủ chính thức, đã không bị xem là người hệ trọng.
Hạn chế cấp tín dụng là một trong những quy định mang tính chiến lược của dự thảo, theo đó danh sách những đối tượng không được ngân hàng cho vay tín chấp, bị hạn chế cho vay thế chấp tương đối dài, bao gồm cổ đông lớn, cổ đông sáng lập, kế toán trưởng, người giám định xét duyệt cấp tín dụng, công ty con - công ty kết liên - công ty mà ngân hàng nắm quyền kiểm soát... Những tỷ lệ hạn chế trong cấp tín dụng được chỉ rõ cho những đối tượng trên. Ngoài ra, ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu thêm vào danh sách người có can hệ với khách hàng và vận dụng các nguyên tắc cẩn trọng khi xem xét cấp tín dụng hoặc xử lý các khoản tín dụng đã cấp trong từng trường hợp cụ thể. Có lẽ cơ quan quản lý đã thấm những bài học trong dĩ vãng và ngày nay. Nhiều cổ đông sáng lập như ông Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) và các bên liên tưởng đã vay của ngân hàng hàng ngàn tỉ đồng, lớn gấp nhiều lần tổng số vốn họ góp vào ngân hàng tính cả theo mệnh giá cũng như thị giá. Một số ông chủ nhà băng thừa nhận họ góp vốn (bằng cả vốn thật và ảo) là để có quyền chi phối, mà cốt là chi phối các hiệp đồng tín dụng. Nếu cánh cửa này bị khép lại, động cơ đầu tư vào nhà băng có thể giảm, các vụ mua bán và sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực
Riêng phần quy định về giới hạn góp vốn, mua cổ phần của nhà băng nhìn qua không thấy gì mới, song đọc kỹ thì không phải vậy. Chả hạn “nhà băng không được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác là người có can hệ của cổ đông, thành viên góp vốn của chính ngân hàng”. Do quy định người có hệ trọng mở mang, nên tổ chức kinh tế mà ngân hàng được góp vốn, mua cổ phần “bỗng nhiên” bị thu hẹp. Chưa kể công ty con, công ty liên kết của nhà băng không được góp vốn, mua cổ phần của nhau. Nói chung mọi ngả nhằng nhịt của sở hữu chéo hoặc bị chặt đứt, hoặc bít kín. Có một chút mở, nhưng không thoáng: nhà băng được mua, nắm giữ cổ phiếu tối đa hai tổ chức tín dụng với mức dưới 5% cổ phần có quyền biểu quyết. Trong tỷ lệ dưới 5% đó, tính luôn cả sự sở hữu cổ phần ngân hàng ấy của thành viên hội đồng quản trị, ban tổng giám đốc, ban kiểm soát và người có hệ trọng của ngân hàng đi mua. Thí dụ, nhà băng X có ý định mua 4,99% cổ phần nhà băng Y, trong khi, giả tỉ, một người trong ban kiểm soát ngân hàng X đang sở hữu 4,98% cổ phần Y rồi, thì ngân hàng X chỉ được mua 0,01% nữa mà thôi. Và để mua 0,01% còn lại, ngân hàng X phải đáp ứng một số điều kiện như nợ xấu không quá 3%, các tỷ lệ an toàn hoạt động đủ chuẩn... Về tỷ lệ cho vay trên huy động (LDP), Thông tư 13 quy định 80% (nhưng chưa ứng dụng), dự thảo mới quy định 85%. Mức 85% được cho là hợp lý, nhiều ngân hàng có chung ý kiến nếu áp 80%, họ có thể lỗ vì điều kiện kinh doanh ở Việt Nam chưa thể bằng các nước khác. Giống như các điểm căn bản, LDP có những khoản mục đi kèm. Thứ nhất “các khoản đầu tư trái phiếu, trừ trái phiếu được dùng trong giao dịch vay tái cấp vốn” phải tính vào tổng dư nợ. Các khoản ủy thác đầu tư mua trái phiếu cũng tính là đầu tư trái phiếu (định nghĩa thế nà đầu tư vào trái khoán ở chương 1). Trước đây một số ngân hàng đã sử dụng “ủy thác đầu tư trái phiếu” để lách quy định về tín dụng. Thứ hai, tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác, tiền huy động từ phát hành giấy má có giá do tổ chức tín dụng khác mua, vay liên nhà băng không được tính vào vốn huy động. Thứ ba, tiền gửi ký quỹ, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước bị loại khỏi vốn huy động. |
Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014
Cùng đọc lại Xử lý sở hữu chéo: thời khắc đã điểm!
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét